Tăng áp huyết thai kỳ là biến chứng nội khoa thường gặp ở nữ giới mang thai và là một trong những căn nguyên quan yếu gây tử vong cho người mẹ. Chẩn đoán tăng áp huyết trong thai kỳ dựa vào trị số huyết áp của bệnh nhân (huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc áp huyết tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg) và phân loại thành mức độ nhẹ (140-159/90-109 mmHg) hoặc nặng (≥ 160/110mmHg) khác với phân độ theo hướng dẫn tăng áp huyết của ESC/ESH.
Tính đến nay, y học vẫn chưa xác định rõ nguyên do gây tăng áp huyết thai kỳ. Một số điều kiện có thể làm tăng nguy cơ phát triển tình trạng này. Bệnh tăng huyết áp thai kỳ có khả năng phát triển thành tiền sản giật. Những cô gái trẻ tuổi lần đầu mang thai có nguy cơ cao phải đối mặt với tình trạng sức khỏe này. Nó càng phổ biến hơn ở những phụ nữ mang song thai, đàn bà trên 35 tuổi, nữ giới bị tăng áp huyết mạn tính hoặc bị tăng áp huyết ở lần mang thai trước và nữ giới mắc bệnh tiểu đường.
Có nhiều thể tăng áp huyết khác nhau ở nữ giới mang thai
Tăng huyết áp thai kỳ: Xác định khi tăng áp huyết xảy ra ở thai kỳ nhưng không có dấu hiệu tiền sản giật khác. Tăng áp huyết có thể trở lại thông thường sau sinh 12 tuần hoặc trở nên tăng áp huyết mạn nếu huyết áp tiếp chuyện tăng sau đó.
Tiền sản giật: Thường được chẩn đoán dựa vào protein niệu và HATT trên140mmHg hoặc HATTr trên 90mmHg xảy ra sau tuần thứ 20 ở thai phụ có áp huyết thường nhật trước đó. Tiền sản giật xuất hiện bộc trực hơn trong lần mang thai trước hết, đa thai, thai trứng, hội chứng kháng phospholipid hoặc tăng áp huyết kinh niên, bệnh thận hoặc đái tháo đường. Tiền sản giật thường liên quan với chậm phát triển thai do suy nhau và là duyên do thường gặp của sinh non. Vì tiểu đạm có thể là trình diễn.# muộn nên thầy thuốc cần ngờ tiền sản giật khi tăng áp huyết mới mắc đi kèm với đau đầu, rối loạn thị giác, đau bụng hoặc thất thường xét nghiệm đặc biệt là tiểu cầu thấp và/hoặc thất thường chức năng gan.
Tăng áp huyết mãn tính: Là huyết áp trên 140/90mmHg trước tuần thai thứ 20 hoặc chỉ sau tuần thai thứ 20 nhưng kéo dài đến 6 tuần sau sinh.
Tiền sản giật trên nền tăng huyết áp mạn tính: Khả năng này xảy ra cao khi nữ giới bị tăng huyết áp có thêm protein niệu lần đầu hoặc đàn bà vốn đã bị tăng áp huyết và protein niệu nay lại tăng đột ngột huyết áp hoặc protein niệu, giảm tiểu cầu hoặc tăng men gan.
Thai phụ cần theo dõi huyết áp thẳng tắp để tránh hậu quả nặng nề.
Tăng huyết áp thai kỳ có hiểm?
Đối với mẹ: Tăng huyết áp khi mang thai nếu không được kiểm soát thì có thể dẫn đến các tai biến cho sản phụ như nhau bong non, tai biến mạch máu não, suy tạng.
Đối với thai nhi: Nếu cơ thể mẹ bị tăng áp huyết thai kỳ, tình trạng máu nuôi kém, thai nhi có thể bị nhẹ cân hay suy dinh dưỡng; hiểm nhất là tình trạng sinh non, thai chết lưu hay buộc phải cho con ra đời sớm để giảm bệnh lý cho mẹ vì các bệnh lý áp huyết của thai kỳ đa số đều giảm rõ rệt sau khi thai được sinh ra. Tăng huyết áp khi mang thai cũng lấy ngưỡng là 140/90mmHg (ngưỡng cần điều trị).
đề phòng tăng áp huyết thai kỳ
Để đề phòng tăng áp huyết thai kỳ, bên cạnh việc khám thai đều đặn theo lịch, đo áp huyết thẳng tuột, thai phụ cũng cần điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt để hạn chế những yếu tố nguy cơ gây tăng áp huyết: Hạn chế sử dụng nhiều muối trong chế biến thức ăn. Uống ít nhất 8 cốc nước mỗi ngày. Tăng lượng protein nạp vào, giảm những thực phẩm chiên, xào, đồ ăn vặt. Nghỉ ngơi hợp lý. Tập thể dục đều đặn. Tránh uống rượu, bia, dùng chất kích thích như caffeine. Có thể dùng thêm thuốc bổ theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.
Tăng áp huyết thai kỳ là bệnh lý nội khoa thường gặp nhất trong thời kỳ thai sản. Việc quan trọng cần làm là theo dõi sát huyết áp trước và trong khi mang thai. Nếu có tình trạng tăng huyết áp xảy ra, cần mau chóng đến gặp thầy thuốc để được khám và điều trị kịp thời nhằm đem lại người khỏe tốt nhất cho mẹ và con. Tăng huyết áp thai kỳ nếu không được phát hiện sớm sẽ rất hiểm nguy đến cả mẹ và bé, cho nên ngay khi biết mang thai, các bà mẹ nên đến các cơ sở y tế uy tín để được tầm soát và tham vấn điều trị hợp lý nếu có phát hiện tăng áp huyết thai kỳ.
BS. Hương Lan
0 nhận xét:
Đăng nhận xét