Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019

Nhiễm trùng hậu sản

hiện thời vấn đề nhiễm trùng bệnh viện đang được các cơ sở y tế để ý ngăn ngừa bằng nhiều biện pháp để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng mắc phải, trong đó có nhiễm trùng hậu sản.

Nhiễm trùng hậu sản là tình trạng nhiễm trùng xảy ra ở sản phụ sau khi sinh khởi hành từ đường sinh dục như âm đạo, cổ tử cung, tử cung trong 6 tuần đầu sau đẻ. Một số vi khuẩn gây nhiễm trùng trên thực tại thường gặp là tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, E. coli, các vi khuẩn kỵ khí như Clostridium, Bacteroides... Đường lan truyền để gây nhiễm khuẩn có thể từ âm đạo qua cổ tử cung, qua vòi tử cung vào phúc mạc; đồng thời vi khuẩn cũng có thể xâm nhập qua chỗ nhau bám vào máu gây nhiễm trùng máu. nhân tố tiện lợi để gây nên tình trạng nhiễm trùng sản hậu do sản phụ có điều kiện dinh dưỡng kém, bị thiếu máu, nhiễm độc thai nghén, ối vỡ non, ối vỡ sớm, chuyển dạ kéo dài, bế sản dịch; do thực hiện các thủ thuật sản khoa như bóc nhau, kiểm soát tử cung...

Các hình thái nhiễm trùng sản hậu thường gặp là nhiễm khuẩn tầng sinh môn, âm hộ, âm đạo; viêm niêm mạc tử cung, viêm tử cung và viêm quanh tử cung, viêm phúc mạc tiểu khung, viêm phúc mạc tuốt, nhiễm trùng huyết, viêm tắc tĩnh mạch.

Nhiễm trùng hậu sản

Nhiễm khuẩn tầng sinh môn, cửa mình, âm đạo

Tầng sinh môn, cửa mình, âm đạo bị nhiễm khuẩn thường do vết khâu tầng sinh môn không đảm bảo sát trùng, việc khâu bình phục tầng sinh môn không đúng kỹ thuật hoặc bỏ sót không khâu, sót gạc trong âm đạo. Sản phụ có triệu chứng sốt không cao; tại chỗ vết thường có biểu lộ sưng, đỏ, đau và nung mủ; sản dịch không có mùi hôi. Biện pháp xử trí điều trị cốt yếu là săn sóc tại chỗ bằng cách rửa sạch vết thương với thuốc sát khuẩn, cắt bỏ chỉ khâu tầng sinh môn khi có nung mủ, đóng băng vệ sinh, dùng gạc vô khuẩn để băng vết thương; có thể dùng kháng sinh nếu cần.

Viêm niêm mạc tử cung

Niêm mạc tử cung bị viêm do các nguyên do như sót nhau, sót màng nhau, nhiễm khuẩn ối, thực hành thủ thuật kiểm soát tử cung, bóc nhau bằng tay không bảo đảm vô khuẩn. Sản phụ bị viêm niêm mạc tử cung có trình diễn.# triệu chứng sốt 38 - 38,5 0 C sau khi sinh vài ba ngày, mỏi mệt, khó chịu; sản dịch ra nhiều, có mùi hôi, có thể lẫn cả máu và mủ...; khám thấy cổ tử cung hé mở, tử cung co lại chậm, ấn tử cung gây đau; cần xét nghiệm lấy sản dịch cấy tìm vi khuẩn gây bệnh và làm kháng sinh đồ. Một hình thái nặng hơn của viêm niêm mạc tử cung là viêm tử cung ắt, quá trình viêm nhiễm có thể lan tới lớp cơ tử cung với những ổ áp xe nhỏ; các triệu chứng lâm sàng có dấu hiệu nặng hơn viêm niêm mạc tử cung và dễ gây nên viêm phúc mạc hoặc nhiễm trùng máu. Biện pháp xử trí điều trị là dùng loại kháng sinh toàn thân như: ampicillin, gentamycin; thuốc làm tăng co bóp tử cung như: oxytocin, ergometrine; nếu duyên do do sót nhau thì phải đợi đến khi nhiệt độ thân thể giảm hoặc hết sốt mới được nong nạo buồng tử cung, nếu căn do gây viêm tử cung tuốt luốt phải cắt bỏ tử cung toàn phần và xét nghiệm cấy máu để phát hiện sớm tình trạng nhiễm trùng huyết.

Viêm tử cung và viêm quanh tử cung

Bệnh lý viêm tử cung và viêm quanh tử cung làm cho sản phụ bị sốt sau khi sinh khoảng 8 - 10 ngày; lúc khám sờ nắn tiểu khung thấy một khối mềm, đau, bờ không rõ, hiện tượng di động hạn chế; sản dịch ra nhiều, có mùi hôi, cổ tử cung chậm đóng lại, tử cung co lại chậm. Tiến triển bệnh lý tùy theo từng trường hợp, bệnh có thể khỏi nếu được điều trị hăng hái có đáp ứng hoặc trở thành viêm phúc mạc tiểu khung. Biện pháp xử trí điều trị là cho sản phụ nằm ngơi nghỉ, chườm đá lạnh và sử dụng loại kháng sinh hạp; trường hợp viêm nhiễm đã tạo thành túi mủ thì phải chọc túi mủ và dẫn lưu qua túi cùng âm đạo, nếu không đáp ứng phải cắt bỏ tử cung và dùng kháng sinh hạp với liều cao truyền bằng đường tĩnh mạch.

Viêm phúc mạc tiểu khung

Quá trình viêm phúc mạc tiểu khung không khu trú ở niêm mạc tử cung mà chúng phát triển vào tiểu khung để hình thành những giả mạc ở các tạng trong tiểu khung và gây dính với nhau. Phản ứng của phúc mạc sẽ sinh ra các túi dịch lẫn máu và mủ. Triệu chứng bệnh lý xảy ra nhàng nhàng khoảng từ 7 - 15 ngày sau khi sinh và có tả rầm rộ hơn viêm niêm mạc tử cung; nhiệt độ cơ thể tăng dần 38 - 40 0 C, rét run, mỏi mệt, lưỡi bẩn; khám thấy có phản ứng thành bụng ở tiểu khung, bụng chướng nhẹ, ở phần trên của tiểu khung bụng mềm; khám âm đạo thấy cổ tử cung bé, tử cung to, di động và đau; các túi cùng âm đạo phù nề và đau; nếu khám âm đạo phối hợp với sờ nắn bụng thấy vùng tiểu khung có khối rắn, không di động, đau; xét nghiệm máu ghi nhận bạch cầu tăng, cần cấy sản dịch để tìm vi khuẩn gây bệnh và làm kháng sinh đồ. Khi điều trị hăng hái và đáp ứng, bệnh tiến triển tốt và có thể khỏi những cũng có trường hợp phát triển thành viêm múc mạc ắt. Biện pháp xử trí điều trị bằng cách cho sản phụ nghỉ ngơi, chườm đá lạnh, dùng kháng sinh phù hợp với liều cao; nếu có ápxe ở túi cùng Douglas phải chọc dò và dẫn lưu qua túi cùng âm đạo; trường hợp điều trị không đáp ứng phải cắt bỏ tử cung và sử dụng kháng sinh hiệp với liều cao truyền qua đường tĩnh mạch.

Viêm phúc mạc tất tật

Viêm phúc mạc quờ xảy ra thường do căn do sau mổ lấy thai không vô khuẩn, sau viêm niêm mạc tử cung và viêm tử cung sờ soạng không được điều trị tốt, sau khi thực hành các thủ tục sản khoa bóc nhau và kiểm soát tử cung; đồng thời cũng có thể do vi khuẩn lan tràn từ bệnh lý ứ mủ ở vòi trứng gây viêm phúc mạc. Triệu chứng viêm phúc mạc ắt biểu thị sau khi sản phụ sinh khoảng từ 7 - 10 ngày hoặc sau khi mổ đẻ khoảng 3 - 4 ngày với dấu hiệu môi khô, lưỡi bẩn, mắt trũng; có hội chứng nhiễm độc, nhiễm trùng; ỉa có khi phân lỏng và mùi rất hôi, có phản ứng thành bụng hoặc cảm ứng phúc mạc nhưng nhiều khi không rõ; chụp phim X-quang bụng không chuẩn bị thấy bụng có quai ruột giãn, có mức nước và mức hơi; xét nghiệm điện giải đồ ghi nhận các thành phần Ca ++ . Cl - giảm. Lưu ý cần chẩn đoán phân biệt với bệnh lý viêm phúc mạc tiểu khung, liệt ruột cơ năng. Xử trí điều trị bằng cách dùng kháng sinh toàn thân hạp, bồi phụ nước và các chất điện giải, thực hiện phẫu thuật cắt bỏ tử cung bán phần, tiến hành rửa và dẫn lưu ổ bụng.

Nhiễm trùng huyết

Nhiễm trùng huyết là hình thái bệnh lý nặng nhất trong nhiễm trùng sản hậu. Sản phụ sau khi sinh bị sốt cao liên tục, nhiệt độ động dao, kèm theo triệu chứng sốt cao là rét run, toàn thân mệt mỏi; có dấu hiệu nhiễm trùng, nhiễm độc như: môi khô, lưỡi bẩn, khó thở, da vàng, nước đái sẫm màu; nghe phổi có tiếng ran; có thể thấy các biểu lộ của các ổ nhiễm khuẩn thứ phát như ápxe cơ, ápxe gan, ápxe não; khám sản khoa thấy cổ tử cung hé mở, tử cung to và co hồi lại chậm, ấn tử cung đau, sản dịch có mùi hôi và bẩn lẫn máu mủ; cấy máu và cấy sản dịch nếu có kết quả dương tính là xác định chẩn đoán chắc chắn nhiễm trùng huyết, nếu kết quả âm tính cũng chẳng thể loại trừ và chính yếu vẫn cứ vào triệu chứng lâm sàng; thực hành các xét nghiệm khác thấy hồng cầu giảm, bạch huyết cầu tăng cốt tử là tăng bạch huyết cầu đa nhân trung tính, hematocrit giảm. Nhiễm trùng huyết có thể gây nên các biến chứng như suy thận cơ năng, viêm thận kẽ, ápxe phổi, viêm nội tâm mạc, ápxe não, viêm màng não... tiên đoán bệnh tùy thuộc vào ổ nhiễm khuẩn thứ phát, việc điều trị có đáp ứng hiệu quả và kịp thời hay không. Điều trị nhiễm trùng huyết bằng cách dùng kháng sinh theo kết quả của kháng sinh đồ, khi chưa có kháng sinh đồ nên dùng loại kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng như nhóm cephalosporin, metronidazol, quinolon... phối hợp với biện pháp truyền máu, dùng thuốc trợ tim...; khi nhiệt độ cơ thể trở lại thông thường hoặc giảm xuống phải thực hiện phẫu thuật cắt bỏ tử cung bán phần để loại trừ ổ nhiễm khuẩn tiên phát.

Viêm tắc tĩnh mạch

duyên cớ gây viêm tắc tình mạch thường hay gặp ở những sản phụ mang thai con rạ có chuyển dạ kéo dài, lưu thông huyết mạch ở hệ tĩnh mạch bị cản trở, có hiện tượng tăng sinh sợi huyết. Triệu chứng xuất hiện muộn khoảng 12 - 15 ngày sau khi sinh với diễn đạt sốt nhẹ, rét run, mạch nhanh; nếu viêm tắc tĩnh mạch chi dưới thì chân phù, màu trắng, ấn đau, gót chân không nhấc được khỏi giường. Nếu điều trị không kịp thời và đáp ứng có thể gây viêm tắc động mạch phổi, thận với nguy cơ dẫn đến tử vong. Trong quá trình điều trị, cần làm xét nghiệm thời gian máu chảy, máu đông; tiểu cầu, thời gian Quick và tỉ lệ prothrombin để theo dõi tiến triển của bệnh và sự đáp ứng điều trị; nên bất động chi bị viêm tắc tĩnh mạch ít nhất 3 tuần sau khi sản phụ hết sốt; dùng kháng sinh toàn thân kết hợp với corticoides sau vài ngày dùng kháng sinh; điều trị thuốc chống đông máu như heparin 25.000UI/kg cân nặng trong 24 giờ bằng đường tiêm tĩnh mạch hay nhỏ giọt tĩnh mạch hoặc dicoumarol 2 - 10 mg trong 24 giờ để kháng vitamin K có tác dụng chậm; theo dõi kết quả điều trị bằng xét nghiệm thời kì Howell, Quick.

Lời khuyên của thầy thuốc



Để dự phòng các bệnh lý nhiễm trùng sản hậu đối với sản phụ sau khi sinh đã được nêu ở trên, cần điều trị hăng hái những ổ viêm nhiễm trong khi có thai như: viêm đường tiết niệu, viêm đường sinh dục...; lưu ý đề phòng nhiễm khuẩn ối và chuyển dạ kéo dài; trong khi sinh không để sót nhau, tuân đúng các chỉ định kiểm soát tử cung, chế độ vô khuẩn và vệ sinh; sau khi sinh phải tránh tình trạng bế sản dịch, đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, coi ngó tầng sinh môn đúng quy định.

BS. NGUYỄN TRÂM ANH

Trên đời có 4 kiểu người tuyệt đối không được làm hại, kẻo phúc báu trời ban tiêu tan nhanh chóng

Cuộc sống đua chen không hiếm khi đẩy chúng ta phải rơi vào bước đường lầm lạc và cứ thế va, làm thương tổn hết người này đến người kia. Tuy nhiên, các bạn đã biết hay chưa, xét về mặt nhân quả báo ứng trong nhà Phật, cố tình hãm hại người khác đã là việc sai và nếu không may hãm hại nhầm 4 người dưới đây thì cái sai ấy còn nhân lên gấp trăm vạn lần, kéo theo phúc báu tiêu tán, thế cuộc mãi mãi không như ý.

Trên đời có 4 kiểu người tuyệt đối không được làm hại, kẻo phúc báu trời ban tiêu tan nhanh chóng - Ảnh 1.

Người có đức lớn

Không cần phải tranh luận nhiều, người có phúc đức lớn chính là người cực kỳ lương thiện, sống chan hòa và bao dong. Những người như vậy rất được lòng mọi người xung quanh và được sự chứng giám đất trời, nhân tâm và thiên ý đều bảo vệ họ. vì thế, nếu vô tình hãm hại người có đức lớn, chúng ta sẽ gặp phải hai hậu quả:

Một là những người xung quanh yêu mến họ sẽ thịnh nộ với chúng ta, thậm chí còn tìm cách trả thù thay. Hai là khiến đất trời tức giận, phúc khí của bản thân từ đó mà nhanh chóng tiêu tán, kéo theo hàng loạt nghiệp báo khổ đau triền miên.

Trên đời có 4 kiểu người tuyệt đối không được làm hại, kẻo phúc báu trời ban tiêu tan nhanh chóng - Ảnh 2.

Người mà mình mang ơn

Người mà chúng ta mang ơn trước nhất phải kể đến bố mẹ vì họ đã sinh ra và nuôi nấng chúng ta, sau đó là bạn bè, anh chị em hay ai đó xung quanh đã dang tay trợ giúp khi chúng ta gặp hoạn nạn. Mang ơn tức thị mắc nợ mà mắc nợ thì phải trả, nếu không trả được còn quay ngược lại hãm hại như bất hiếu với bác mẹ, vô nghĩa với ân nhân, điều này khiến nợ chồng nợ, nặng nề khôn cùng.

Chấp mê bất ngộ ở chỗ này, một khi báo ứng giáng xuống, bản thân chúng ta kiên cố chẳng thể nào chống đỡ nổi. Lúc đó mới nhận ra sự bạc bẽo khiến bản thân lâm vào cảnh cơ cực, âu có nhẽ cũng đã muộn mằn.

Trên đời có 4 kiểu người tuyệt đối không được làm hại, kẻo phúc báu trời ban tiêu tan nhanh chóng - Ảnh 3.

Người đồng cam cộng khổ

Người đồng cam cộng khổ với chúng ta đa số sẽ là vợ hoặc chồng, ngoại giả còn có bạn bè - những người đã bên cạnh giúp đỡ khi chúng ta gặp khó khăn, yên ủi khi chúng ta buồn, khích lệ khi chúng ta gặp chuyện bất trắc,...Giống như trường hợp người mình mang ơn ở trên, hãm hại hay bội nghịch những người đồng cam cộng khổ, chúng ta sẽ nhận về cái kết thật sự đáng buồn. Đất trời không tha, phúc khí trước sau cũng bỏ đi.

Chẳng hạn như khi thành công trên con đường sự nghiệp thì lại cặp bồ, chán chê ruồng rẫy vợ/chồng - người đã cùng ta đi qua quãng thời kì giông bão khó khăn, để rồi sau đó nhận về báo ứng, sự nghiệp tiêu tan, phú quý suy tàn.

Trên đời có 4 kiểu người tuyệt đối không được làm hại, kẻo phúc báu trời ban tiêu tan nhanh chóng - Ảnh 4.

Người tu hành

dĩ nhiên, người tu hành được đề cập ở đây là những người tu hành chân chính ở bất kể đạo nào đi chăng nữa, chỉ cần họ sống lương thiện, tốt bụng, hay giúp đỡ mọi người xung quanh. Những người này thường luôn có các đấng độn bảo hộ và minh giám. Do đó, một khi vô tình hãm hại hay xúc phạm họ, quả báo đáng thương sẽ luôn chờ chúng ta trước mắt.

Những bộ cánh lộng lẫy nhất tại Cannes 2019

"Nàng công chúa" của Hollywood Elle Fanning

Minh tinh Elle Fanning như một nàng công chúa bước ra tại buổi công chiếu phim “Ngày xửa ngày xưa ở Hollywood” (Once upon a Time in Hollywood).

Cặp đôi Priyanka Chopra và Nick Jonas

LHP Cannes giống như một “kỳ trăng mật” đối với cặp đôi mới cưới Hoa hậu Thế giới Priyanka Chopra và ca sĩ Nick Jonas.

Karolina Kurkova

Siêu mẫu Karolina Kurkova trội trong trang phục váy dạ yến màu hồng họa tiết hoa.

Hana Cross và Brooklyn Beckham

Brooklyn Beckham, con trai cả của siêu sao bóng đá David Beckham xuất hiện tại Cannes cùng bạn gái Hana Cross.

Helen Mirror

y phục tông xịt tông của Helen Mirror. Mái tóc nhuộm hồng để cùng tông màu với váy đầm.

Josephine Skriver

Siêu mẫu người Đan Mạch Josephine Skriver vẻ nổi trội trong trang phục đỏ rực tại buổi công chiếu phim La Belle Epogue.

LiLy

( theo People )

Nguyên nhân gây thai chết lưu

Có rất nhiều căn nguyên gây TCL và cũng có rất nhiều trường hợp TCL mà không tìm được duyên do.

Những căn nguyên từ phía người mẹ như: Mẹ mắc các bệnh lý kinh niên: Viêm thận, suy gan, thiếu máu, lao phổi, bệnh tim, tăng áp huyết... Mẹ mắc các bệnh nội tiết (Basedow, thiểu năng giáp trạng, tiểu đường, thiểu năng hay cường năng thượng thận). Mẹ bị nhiễm độc thai nghén từ thể nhẹ đến nặng đều có thể gây ra thai chết lưu. Tỷ lệ thai chết lưu càng cao khi nhiễm độc thai nghén càng nặng và không được điều trị hay được điều trị không đúng. Bệnh kéo dài nhiều ngày làm thai nhi suy dinh dưỡng và chết. Mẹ bị nhiễm các bệnh ký sinh trùng như sốt rét (đặc biệt là sốt rét ác tính), nhiễm vi khuẩn (như giang mai...), nhiễm virut (như viêm gan, , cúm, …). Mẹ có tử cung quái đản, tử cung nhi tính hay tử cung kém phát triển làm cho thai bị nuôi dưỡng kém. ngoại giả, còn có một số yếu tố tiện lợi từ người mẹ làm cho TCL như: tuổi của mẹ, tỷ lệ TCL tăng cao ở những người mẹ trên 40 tuổi (cao gấp 5 lần so với nhóm những người mẹ dưới 40 tuổi).

Những căn do từ phía thai như: rối loạn nhiễm sắc thể, có thể là do di truyền từ cha mẹ, có thể là do đột biến trong quá trình tạo noãn, tạo tinh trùng, thụ tinh và phát triển của phôi. Tỷ lệ rối loạn thể nhiễm sắc tăng lên rõ rệt theo tuổi của mẹ, đặc biệt là ở các bà mẹ trên 40 tuổi. Thai quái đản: não úng thuỷ, vô sọ, phù rau thai. Bất đồng nhóm máu giữa mẹ và con do nhân tố Rh. Bánh rau bị lão hoá, không bảo đảm nuôi dưỡng thai, dẫn đến TCL nếu không được xử trí kịp thời. Đa thai. Những thất thường ở dây rốn như dây rốn thắt nút, dây rốn quấn quanh cổ, quanh thân, quanh chi, dây rốn xoắn, dây rốn bị chèn ép... Bên cạnh đó có khoảng từ 20-50% số trường hợp TCL không tìm thấy căn nguyên.

Biến chứng nguy hiểm nhất đối với các ca TCL là màng ối rách, vi khuẩn sẽ xâm nhập buồng ối và dạ con, gây nhiễm khuẩn trầm trọng, có thể nguy hiểm tới tính mệnh người mẹ. Ngoài ra, nếu thai chết và lưu lại quá lâu trong dạ con (trên 3 tuần) có thể gây ra rối loạn đông máu, gây băng huyết nặng ở sản phụ sau sẩy thai hoặc sinh đẻ. song song, tình trạng này còn có thể ảnh hưởng tới tâm lý của người mẹ, đặc biệt là những nữ giới hiếm muộn.

BS. Đặng Lan

Nhiều mẹ hốt hoảng cảnh báo sau khi uống vitamin A miễn phí về con bị nôn ói, bác sĩ nói gì?

Các mẹ hoang mang vì uống vitamin A về con bị nôn ói

Đợt bổ sung vitamin A liều cao dành cho trẻ từ 6-36 tháng tuổi lần 2 trong năm 2019 đang diễn ra tại nhiều trạm y tế xã, phường trên cả nước. Tuy nhiên, một số mẹ sau khi cho con đi uống vitamin A về đã "cảnh báo" rằng con gặp tác dụng phụ, trong đó phổ quát nhất là nôn trớ, khiến các mẹ bỉm sữa khác hết sức hoang mang.

Nhiều mẹ hốt hoảng cảnh báo sau khi uống vitamin A miễn phí về con bị nôn ói - Ảnh 1.

san sớt của mẹ D.H.

Cụ thể, mẹ D.H lên tiếng cảnh báo như sau: " Bé nhà em mới 8 tháng. bữa qua em cho bé đi uống vitamin A lúc 9h sáng. Lúc đầu con vẫn ăn chơi thường ngày, 7h tối con bắt đầu nôn, nôn rất nhiều dù rằng con không hề bị ho hay viêm họng. Em hoảng quá cho con vào viện luôn vì em nghĩ hay do mình cho con ăn tối là cháo thịt bò cà chua bị ngộ độc chứ không nghĩ gì đến việc uống vitamin A nhé. Bác sĩ cho đi siêu thanh thì kết quả bình thường. Lúc đang ngồi chờ Bác sĩ kết luận thì cũng gặp một mẹ có bé cùng tháng tuổi với bé nhà em sau một lúc trò chuyện thì hóa ra là 2 bé bị giống nhau. thầy thuốc kết luận do ngộ độc vitamin A vì uống quá liều. Em là cạch mặt vitamin A luôn nhé ".

Nhiều mẹ hốt hoảng cảnh báo sau khi uống vitamin A miễn phí về con bị nôn ói - Ảnh 2.

Nhiều mẹ hốt hoảng cảnh báo sau khi uống vitamin A miễn phí về con bị nôn ói - Ảnh 3.

Một số bé khác cũng gặp tình trạng hao hao.

Thực hư thông tin uống vitamin A gây ngộ độc, nôn ói?

Các chuyên gia cho biết, vitamin A dùng trong chiến dịch bổ sung vi chất dinh dưỡng quốc gia 2 lần trong năm có 2 dạng: dạng 100.000 đơn vị và 200.000 đơn vị, liều ngộ độc ở trẻ con là trên 300.000 đơn vị. do vậy thông báo trẻ đi uống vitamin A miễn phí về bị ngộ độc là không chuẩn xác.

Tuy nhiên, trong trường hợp bé đã được cho uống vitamin A hàng ngày và đến đợt uống vitamin A miễn phí liều cao vào tháng 6 và tháng 12 hàng năm vẫn cho đi uống thì mới có khả năng ngộ độc.

Theo tài liệu của Tổ chức y tế thế giới WHO, bổ sung vitamin A giúp giảm tỉ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ con và được khuyến cáo bổ sung cho trẻ lọt lòng và trẻ con 6–59 tháng ở các nhà nước nằm trong nhóm có nguy cơ thiếu vitamin A. WHO cũng khẳng định bổ sung vitamin A liều cao cho trẻ không gây ra bất kì tác dụng phụ đáng kể nếu bổ sung đúng đối tượng và đúng liều lượng.

Một số thí nghiệm bổ sung vitamin A cho trẻ 6–59 tháng tuổi có tìm thấy tác dụng phụ nhưng ở mức nhẹ và thoáng qua như khó chịu, đau đầu, sốt, ỉa chảy, buồn nôn và nôn. Tuy nhiên, tác dụng phụ này được ghi nhận là rất nhẹ, hiếm gặp và không đáng kể nếu so sánh với những lợi. ngăn ngừa nguy cơ mù lòa và tử vong khi trẻ được bổ sung vitamin A.

Nhiều mẹ hốt hoảng cảnh báo sau khi uống vitamin A miễn phí về con bị nôn ói - Ảnh 5.

Bác sĩ Nhi khoa Trần Thị Huyên Thảo, hiện đang công tác tại TP. Hồ Chí Minh cũng khẳng định trong cuốn sách "Chat với Bác sĩ" của mình rằng: " bác mẹ có thể lo lắng về tác dụng phụ của thuốc và sợ khi nghe đến từ liều cao, tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy, ngoài tác dụng phụ có thể tăng nguy cơ nôn ói của trẻ trong 48 giờ sau khi uống, các tác dụng phụ nguy hiểm khác hầu như chơi có ý nghĩa. Từ khi áp dụng bổ sung vitamin A mỗi năm 2 lần ở Việt Nam, chưa một trường hợp ngộ độc nào được ghi nhận ".

thầy thuốc Đỗ Tiến Sơn - đảm trách chuyên môn của page Chăm con chuẩn Mỹ khẳng định: Uống vitamin A liều cao mỗi 6 tháng 1 lần tại phường, xã không gây quá liều vitamin A. Ở trẻ 6-60 tháng tuổi, sau uống vitamin A có thể có các tác dụng phụ nhẹ và thoáng qua như: khó chịu, quấy, đau đầu, đi tả, buồn nôn và nôn hoặc thóp đầy (ở trẻ còn thóp). Các tác dụng phụ này hiếm gặp nhưng nó lại trùng lặp với các dấu hiệu của bệnh nặng như viêm màng não, chấn thương sọ não... thành ra, khi con có các mô tả trên, bác mẹ cần tham khảo quan điểm của Bác sĩ.